Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Kinh nghiệm một số quốc gia và khuyến nghị cho Việt Nam

- Thanh Phụng

Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) nhận thấy rằng 91% người tiêu dùng toàn cầu mong đợi các doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường.

CSR được hiểu là toàn bộ trách nhiệm của doanh nghiệp về những ảnh hưởng đến xã hội từ các quyết định và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. CSR được thực hiện trên cơ sở phải tôn trọng pháp luật và cam kết với các bên có lợi ích liên quan, có khả năng gắn kết hoạt động kinh doanh với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đạo đức, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người và đáp ứng các mối quan tâm của khách hàng, nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của các chủ sở hữu doanh nghiệp, bên có liên quan và toàn xã hội, xác định rõ, ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực có thể từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Khái niệm về CSR được hình thành trên toàn thế giới khoảng 60 năm trước đây. Trước giai đoạn này, có các tiêu chuẩn khác nhau và quy định trong các lĩnh vực quản trị công ty (QTCT), đạo đức công ty và mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh, trách nhiệm đối với xã hội và đất nước. Các quy tắc và tiêu chuẩn chính sách xã hội chưa được phát triển vì đã sử dụng cách tiếp cận "ngẫu nhiên". Tuy nhiên, từ cuối những năm 60 - 70, các doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ và châu Âu đã bắt đầu tìm hiểu sự cần thiết phải thống nhất các yếu tố khác nhau của chính sách doanh nghiệp liên quan đến mối quan hệ của công ty với môi trường và phát triển một tích hợp đơn lẻ tiếp cận tương tác với xã hội. Một chính sách như vậy nhằm hướng doanh nghiệp phải gắn liền với triết lý, phương thức hoạt động, chiến lược tiếp thị, phải đáp ứng được kỳ vọng của xã hội. Cùng một lúc ở Tây Âu và Mỹ đã thống nhất luật lao động và môi trường, đã có công khai các sáng kiến chính sách nhằm phát triển CSR.

Sáng kiến trách nhiệm xã hội trong kinh doanh là truyền thống lâu đời trong thế giới phương Tây. Trong báo cáo của Liên hợp quốc “Phát triển các quy định về vai trò và trách nhiệm xã hội của khu vực tư nhân" năm 2002, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan nói rằng "sự hiện diện của các công ty lớn như tuyên ngôn nhất định về trách nhiệm xã hội của công ty và trở thành điều kiện tiên quyết cho thành công của bất kỳ chiến lược truyền thông và quan hệ công chúng nào”.

CSR hướng đến doanh nghiệp với ý tưởng doanh nghiệp nên cân bằng các hoạt động tạo ra lợi nhuận với các hoạt động có lợi cho xã hội. Nó liên quan đến việc phát triển các doanh nghiệp trong mối quan hệ tích cực với xã hội mà doanh nghiệp hoạt động.

Mặc dù cụm từ CSR đã trở thành một thuật ngữ phổ biến, nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi, cụ thể:

Liên minh châu Âu (EU) - CSR được hiểu là khi doanh nghiệp tích hợp các mối quan tâm xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh, tương tác với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện.

Hội đồng kinh doanh thế giới về phát triển bền vững - PTBV (WBCSD) - cam kết liên tục của doanh nghiệp để hành xử đạo đức và đóng góp cho phát triển kinh tế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình của họ cũng như của cộng đồng địa phương và xã hội nói chung.

Kinh doanh vì trách nhiệm xã hội (BSR) - CSR là khi doanh nghiệp đạt được thành công thương mại theo cách tôn trọng các giá trị đạo đức và tôn trọng con người, cộng đồng và môi trường tự nhiên.

ISO 26000 - Đặc điểm cơ bản của CSR là sự sẵn lòng của một tổ chức chịu trách nhiệm về tác động của các hoạt động và các quyết định kinh doanh đối với xã hội và môi trường. Điều này hàm ý cả hành vi minh bạch và đạo đức góp phần vào sự PTBV, bao gồm sức khỏe và phúc lợi xã hội, có tính đến sự mong đợi của các bên liên quan, tuân thủ luật hiện hành và phù hợp với các tiêu chuẩn hành vi quốc tế. CSR được tích hợp vào ba lĩnh vực: cụ thể là con người (xã hội), hành tinh (môi trường) và lợi nhuận (kinh tế).

Vấn đề đặt ra ở đây là phương thức thể hiện CSR trong lĩnh vực, ngành mà doanh nghiệp hoạt động. Mặc dù CSR không bị bắt buộc điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, nhưng nó lại được xem là thực hành tốt để doanh nghiệp xem xét các vấn đề xã hội và môi trường.

Trách nhiệm xã hội và thực hành đạo đức rất quan trọng đối với thành công của doanh nghiệp. Nghiên cứu CSR toàn cầu năm 2015 nhận thấy rằng 91% người tiêu dùng toàn cầu mong đợi các doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Hơn nữa, 84% nói rằng họ tìm kiếm các sản phẩm có trách nhiệm bất cứ khi nào có thể. Số liệu thống kê cho thấy, người tiêu dùng ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội và tích cực tìm kiếm các sản phẩm từ các doanh nghiệp hoạt động về mặt đạo đức. CSR chứng minh rằng một doanh nghiệp quan tâm đến các vấn đề xã hội tác động đến lợi nhuận, điều này sẽ thu hút những khách hàng tăng nền tảng giá trị, tăng tính bền vững cho doanh nghiệp.

Chính phủ phải xây dựng quy định một cách thích hợp, có tính đến trụ cột PTBV như: trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. CSR có thể đóng vai trò là một trong những "công cụ", hoặc thay thế cho chính sách điều tiết, nhưng điều đó không chỉ đúng về lý thuyết, mà đó có thể được chứng minh trong thực tế bởi các doanh nghiệp.

2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số quốc gia

Việc đưa ra và chấp nhận CSR ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, dù chưa được quy chuẩn về mặt pháp lý, nhưng đã trở thành tiêu chuẩn tối thiểu đối với việc quản trị kinh doanh ở cấp độ toàn cầu, với các tiêu chuẩn tham chiếu quốc tế do Liên hợp quốc, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và các quy ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ban hành. CSR gắn bó chặt chẽ với nguyên tắc phát triển bền vững (PTBV), doanh nghiệp nên đưa ra quyết định không chỉ dựa trên các yếu tố tài chính như lợi nhuận hay cổ tức mà còn dựa trên hệ quả xã hội và môi trường trước mắt và lâu dài. CSR có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các nguy cơ phát triển ngoài tầm dự báo, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại, đồng thời đảm bảo rằng các nguồn lực của các thế hệ tương lai không bị đe dọa.

Thái Lan

Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Thái Lan (Thai SEC) xây dựng khái niệm CSR trên cơ sở các khái niệm của Hiệp ước Toàn cầu Liên hợp quốc (the United Nation Global Compact - UNGC), OECD, ISO, báo cáo sáng kiến toàn cầu (global Reporting Initiative - GRI), cụ thể:

Các công ty Thái Lan nhìn thấy những lợi ích của phương pháp CSR về xây dựng ý chí tốt và niềm tin của cộng đồng tác động tích cực đến hình ảnh của công ty. Trong khi Thái Lan đã có nỗ lực đáng kể để xây dựng nhận thức CSR thông qua các diễn đàn thảo luận, các cuộc họp và đào tạo, nhưng kiến thức hạn chế về giá trị và thực hành CSR của doanh nghiệp vẫn còn. Cần thảo luận thêm về các vấn đề như nỗ lực của chính phủ trong việc hỗ trợ các phương pháp CSR ở Thái Lan, các ưu đãi tài chính cho các doanh nghiệp Thái Lan để thực hành CSR, các tiêu chuẩn quản trị tốt và phát triển xã hội, các vấn đề môi trường và vai trò của Thái Lan trong việc phát triển ISO 26000, xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về CSR.

ại Thái Lan, Chính phủ và tổ chức quản lý đã thúc đẩy việc thực hiện CSR thông qua các chương trình tham gia cộng đồng như các hoạt động giải quyết và thể hiện CSR giúp tăng hình ảnh, nhận thức và tăng danh tiếng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bổ sung thêm các hoạt động của các chương trình tham gia cộng đồng cho Cán bộ Quan hệ Công chúng của họ, và những người khác tạo ra một nhân viên CSR mới để hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự tham gia của cộng đồng hoạt động của chương trình.

Các bên liên quan CSR, theo định nghĩa của ISO/CD 26000, bao gồm hầu như tất cả mọi người trong cộng đồng doanh nghiệp, và cho thấy rằng các hoạt động CSR được yêu cầu để tham gia vào các bên liên quan trong việc đóng một số vai trò nhằm đạt được các mục tiêu thực hiện CSR của các công ty trong khi các công ty cần phải kiểm tra tất cả các kỳ vọng và quản lý Các chương trình CSR để đáp ứng những kỳ vọng đó.

Trung Quốc

Để thúc đẩy PTBV doanh nghiệp và xây dựng một xã hội hài hòa, Chính phủ ở nhiều nước đã khuyến khích các doanh nghiệp công bố các hoạt động CSR của họ thông qua báo cáo hàng năm. Kể từ năm 2008, các cơ quan quản lý của Chính phủ Trung Quốc, Sở Giao dịch Chứng khoán Thâm Quyến (SZSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải (SSE), Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước Trung Quốc (SASAC), Bộ Bảo vệ Môi trường (MEP) của Trung Quốc, đã ban hành các hướng dẫn về CBTT liên quan đến CSR.

Ở Trung Quốc, quy định hướng dẫn các doanh nghiệp chấp nhận và thực hiện tại phần báo cáo về các hoạt động CSR được khuyến khích thực hiện từ khá lâu. Kể từ tháng 12/2008, các tổ chức niêm yết được yêu cầu (bắt buộc) phải đưa ra phần CSR trong nội dung các báo cáo thường niên. Đồng thời cũng khuyến khích các doanh nghiệp khác tự nguyện thực hiện quy định này.

Cùng với các quốc gia đang phát triển như Brazil và Ấn Độ, Trung Quốc là nước rất chú trọng tới CSR. Trung Quốc duy trì những kỳ vọng cao cho các doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Tỷ lệ người tiêu dùng hướng tới các doanh nghiệp đang nỗ lực để có trách nhiệm với xã hội chiếm 61% so với trung bình toàn cầu là 48%. Người tiêu dùng Trung Quốc xem các doanh nghiệp như một “người chơi” chủ chốt trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường, và họ cũng sẵn sàng tham gia cùng với các doanh nghiệp trong sáng kiến CSR. Chính phủ là động lực chính phát triển CSR trong nước. Khái niệm về sự tham gia của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội đưa ra lần đầu tiên trong Quyết định về xây dựng một xã hội hài hòa do Đảng bộ Trung ương Trung Quốc ban hành năm 2006. Tại Hội nghị toàn thể thứ ba Phiên họp của Ủy ban Trung ương Đảng lần thứ 18 về cải cách toàn diện vào tháng 11/2013, CSR đã được công bố là một trong tám lĩnh vực trọng tâm để cải cách hơn nữa cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Trung Quốc.

Một số Bộ, ngành trung ương ở Trung Quốc cũng đã xây dựng các hướng dẫn và chính sách để thúc đẩy CSR trong các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, Bộ Thương mại (MOFCOM) đã ban hành văn bản chính thức thúc giục các công ty Trung Quốc đầu tư hoặc hoạt động ở nước ngoài để thực hiện CSR. Trong năm 2015, SASAC phát hành bộ thứ hai hướng dẫn cho DNNN về cách đảm bảo thực hiện thực hành CSR thông qua một hệ thống quản lý hiệu quả.

Việt Nam và CSR

Biến đổi khí hậu đang đe dọa sự phồn thịnh và tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trường của toàn nhân loại. Chỉ trong vòng 50 năm, thế giới mất 50% rừng nguyên sinh, hệ sinh thái và động vật hoang dã đang mất dần trong mắt chúng ta. Việt Nam không phải là ngoại lệ, là một trong 10 nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, do mực nước biển dâng cao đến năm 2030 theo dự báo của UNDP (Chương trình phát triển Liên hợp quốc), khoảng 45% diện tích đất nông nghiệp bị phá hủy và nhiễm mặn, 22 triệu người có khả năng mất nhà cửa, thiệt hại có thể lên đến 10% GDP.

Đề cập đến trách nhiệm xã hội, tích hợp các mục tiêu PTBV bao gồm quản trị, môi trường và xã hội (ESG) vào quy trình hoạt động kinh doanh, với nỗ lực nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, hệ sinh thái và cộng đồng chính là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự PTBV phù hợp với các mục tiêu PTBV của Liên hợp quốc, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ -TTg, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh để đảm bảo phát triển kinh tế một cách bền vững. Đối với ngành Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 2183/QĐ-BTC ngày 20/10/2013 ban hành Kế hoạch hành động của ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020. Theo đó, PTBV là yêu cầu xuyên suốt đến năm 2020, cần đảm bảo cân bằng, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội với phát triển xã hội. CSR là cách tiếp cận có hệ thống, tích hợp các yếu tố phi tài chính vào quyết định hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở xây dựng hướng đến PTBV, thay vì làm xói mòn hoặc phá hủy đối với nền kinh tế, xã hội, con người và nguồn tài nguyên. Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp. Khi CSR được định nghĩa “là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với những tác động của họ đối với xã hội”, nếu như mỗi doanh nghiệp không phát triển chính sách CSR với quy trình kiểm soát tốt các rủi ro về trách nhiệm với môi trường, xã hội và quản trị công ty (ESG) thì tác động tiêu cực đến toàn xã hội và môi trường là không nhỏ.

Trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK), việc tích hợp các chính sách và thông lệ về ESG vào chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp trở thành xu thế tất yếu, giúp doanh nghiệp nhận diện và xây dựng kế hoạch ứng phó đối với các rủi ro trên. Trong Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn CBTT trên TTCK, báo cáo PTBV đã không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp niêm yết. Trong đó, đã tích hợp các thông tin về ESG vào mẫu báo cáo thường niên. Đây là một trong những hệ thống văn bản quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao nhận thức và thực hành về PTBV. Tuy nhiên, chất lượng Báo cáo PTBV ở Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu. Các doanh nghiệp đang thực hiện báo cáo một cách không đồng nhất, không tuân theo một tiêu chuẩn cụ thể nào, điều đó dẫn đến việc không đáp ứng được yêu cầu từ phía các nhà đầu tư.

Để phát triển chiến lược CSR và thực hiện trách nhiệm xã hội như là một lợi thế cạnh tranh, mang lại những giá trị tốt đẹp, bền vững cho cộng đồng và xã hội, doanh nghiệp, với vai trò là cơ quan quản lý trên TTCK, thời gian qua Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã liên tục hoàn thiện khung pháp lý để đảm bảo thị trường được công khai, minh bạch và hiệu quả, hướng tới mục tiêu PTBV. Nghiên cứu, triển khai chuẩn hóa quy định về CBTT, báo cáo PTBV, bao gồm những yêu cầu liên quan đến thông tin về ESG; ban hành Bộ Nguyên tắc QTCT nhằm hoàn thiện khuôn khổ quy định về quản trị công ty (QTCT) cho TTCK Việt Nam theo thông lệ quốc tế; tổ chức hỗ trợ thị trường và doanh nghiệp, hỗ trợ các sở giao dịch và các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện các chương trình QTCT.