en

CSR 1.0 và bốn cấp độ phát triển

- Phương Uyên

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) về cơ bản được hiểu là việc doanh nghiệp thực hiện các sáng kiến vì một xã phát triển bền vững bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận.

CSR ra đời từ các nước phát triển. Theo Tiến sĩ Wanney Visser – tác giả cuốn “CSR 2.0 - kỷ nguyên của trách nhiệm” (2011), một biểu hiện của CSR – hoạt động từ thiện đã xuất hiện và tồn tạo từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Đạo Hồi, Thiên chúa giáo hay Công giáo... đều thống nhất ở tinh thần giúp tương thân tương ái là trách nhiệm của nhân loại. Cũng theo tác giả, lịch sử CSR đã phát triển từ CSR 1.0 lên CSR 2.0.

Cấp độ 1 hay còn gọi là “thời kỳ của sự tham lam”, bắt đầu từ năm 1972 và kết thúc năm 2008 cùng sự sụp đổ của các tập đoàn lớn như Enron năm 2001, Lehman năm 2007 gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Đây là giai đoạn doanh nghiệp thực hiện CSR nhằm tối đa hóa lợi nhuận bất chấp mọi tác hại gây ra cho cộng đồng xã hội.

  "CSR du nhập vào Việt Nam thông qua sự hoạt động của các công ty đa quốc gia. Khái niệm CSR dù đã không mới song các doanh nghiệp hiện nay phần lớn vẫn chỉ dừng lại ở cấp độ làm từ thiện."

Cấp độ 2 bắt đầu từ cuối 1889 và phát triển cực thịnh vào năm 2008 gắn với dấu mốc nhà tài phiệt đồng thời cũng là nhà đạo đức học Warrant Buffet tài trợ 31 tỉ USD cho quỹ Melinda Gates Foundation. Lịch sử ghi nhận chủ nghĩa nhân đạo xuất hiện khoảng 2.5000 năm trước công nguyên. Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân đạo không chỉ có nguồn gốc lâu đời ở Châu Âu, mà sau này, doanh nghiệp và cá nhân làm CSR từ thiện lại mang nhiều dấu ấn của xã hội Mỹ với những cái tên như Rockefeller, Bill Gates. CSR thiện nguyện chính là việc doanh nghiệp trích hoặc đầu tư tiền ủng hộ cộng đồng giải quyết một số vấn đề xã hội. Thực hiện CSR theo cách này có thể nhất thời giúp đỡ các nhóm cộng đồng tổn thương, nhưng lâu dài không góp phần xây dựng năng lực cho họ khi đối mặt với khó khăn, thử thách.

CSR marketing xã hội cấp độ 3 gắn liền với chủ nghĩa tiêu dùng xuất hiện ở Mỹ những năm 1960. Một điều đáng ghi nhớ là các chiến dịch CSR giai đoạn này rất phổ biến ở các ngành nghề sản xuất và dịch vụ như hóa chất, thuốc lá, bia rượu, khí đốt, và tài chính. Bởi trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, các ngành nghề này đã gây ra những hệ lụy trực tiếp đối với người tiêu dùng và xã hội.

Cấp độ cuối cùng của CSR 1.0 gắn với chức năng quản lý, được thể chế hóa thành những bộ quy tắc ứng xử. Chứng chỉ ISO, Labour Codes, là những ví dụ của các nguyên tắc CSR liên quan đến quy trình quản lý chất lượng và người lao động đã được thể chế hóa. CSR giai đoạn này được giám sát bởi các tổ chức và báo cáo quốc tế như quỹ phòng chống tham nhũng của Hội đồng Bảo an Liên hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới, tuyên bố chung về phát triển bền vững Johannesburg... Tựu chung lại, doanh nghiệp thực hiện CSR một cách hệ thống, bài bản, có chế tài giám sát.